Suy hô hấp cấp cần xử trí như thế nào là đúng cách?

Suy hô hấp là tình trạng hệ hô hấp không đủ khả năng duy trì trao đổi khí theo cơ thể, gây giảm O2 và/hoặc tăng CO2 máu gây ngừng thở ngừng tim ở trẻ em.

Đánh giá: 1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (2 đánh giá, trung bình: 5,00 trong tổng số 5)
Loading...

Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Bác sĩ giảng viên tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur để cùng tìm hiểu về tình trạng này. Hãy cùng theo dõi cuộc trò chuyện này nhé!

Chế độ dinh dưỡng dành riêng cho chị em bị rong kinh?

Suy hô hấp cấp cần xử trí như thế nào là đúng cách?

Những nguyên nhân gây suy hô hấp cấp phổ biến là gì?

Hỏi: Thưa Bác sĩ, Bác sĩ có thể cho biết suy hô hấp cp có thể là do các bệnh lý nào gây ra ?

Trả lời:

Tin tức cho biết: Suy hô hấp cấp có thể do bệnh lý của đường thở như dị vật đường thở, viêm thanh khí quản, suyễn, tổn thương phổi như viêm phổi, phù phổi, ARDS, dập phổi do chấn thương, bệnh lý não như viêm não màng não, ngộ độc, chấn thương sọ não, bệnh lý thần kinh-cơ do nhược cơ, hội chứng Guillain – Berre.

Hỏi: Cần làm các cận lâm sàng nào trong trường hợp bệnh nhân bị suy hô hấp ? Bệnh được chẩn đoán xác định khi nào ?

Trả lời:

Đề nghị cận lâm sàng CTM, X-quang phổi, khí máu khi tím tái không cải thiện với thở oxy, siêu âm tim khi có tiền căn bệnh tim hay X-quang có bóng tim to hoặc có biểu hiện suy tim.

Chẩn đoán xác định khi lâm sàng có thở nhanh (dưới 2 tháng NT > 60 lần/phút, 2 tháng – 2 tuổi NT > 50 lần/phút, 2 – 5 tuổi NT > 40 lần/phút), co lõm ngực, có hoặc không tím tái, thở rên ở trẻ < 2 tháng tuổi, tim nhanh cao huyết áp hoặc tụt huyết áp ở giai đoạn muộn, bứt rứt vật vã hoặc hôn mê co giật. Đồng thời kết quả cận lâm sàng có SaO2 < 90%, hoặc khí trong máu PaO2 < 60 mmHg và/hoặc PaCO2 > 50 mmHg với FiO2 = 0,21. Suy hô hấp loại 1 do giảm thông khí và tưới máu hoặc rối loạn trao đổi (viêm phổi, suyễn, phù phổi, ARDS), PaO2 thấp kèm PaCO2 bình thường hoặc cao. Suy hô hấp loại 2 do giảm thông khí phế nang (ức chế trung tâm hô hấp, tắc nghẽn đường thở trên, yếu liệt cơ hô hấp), PaO2 thấp kèm PaCO2 cao. X-quang phổi thấy hình ảnh viêm phổi, tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi.

Hỏi: Dựa vào đâu để chẩn đoán nguyên nhân gây suy hô hấp? Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lý nào?

Trả lời:

Chẩn đoán nguyên nhân:

Viêm phổi: thở nhanh, ran phổi, hội chứng đông đặc phổi, X-quang có hình ảnh tổn thương phế nang.

Suyễn: tiền căn suyễn, khó thở ra, khò khè, ran rít.

Dị vật đường thở: hội chứng xâm nhập, khó thở vào, rít thanh quản.

Viêm thanh khí phế quản: viêm hô hấp trên, khàn tiếng, khó thở vào, rít thanh quản.

Bệnh lý não: hôn mê, thở chậm, không đều.

Bệnh thần kinh cơ: yếu liệt chi, thở nông.

Suy tim, phù phổi cấp: tim nhanh, nhịp Gallop, ran ẩm dâng cao dần, gan to và đau, tĩnh mạch cổ nổi, X-quang có bóng tim to, siêu âm tim: chức năng co bóp cơ tim giảm.

Chẩn đoán phân biệt với Methemoglobinmia bệnh nhân có tím tái, khám tim phổi bình thường, Methemoglobin máu cao.

Hạn chế các nguyên nhân có thể phòng ngừa được bệnh.

Những nguyên nhân gây suy hô hấp cấp phổ biến là gì?

Những nguyên nhân gây suy hô hấp cấp phổ biến là gì?

Nguyên tắc điều trị suy hô hấp cơ bản và hiệu quả nhất

Hỏi: Nguyên tắc điều trị suy hô hấp là gì và bệnh cần được điều trị ra sao?

Trả lời:

Nguyên tắc điều trị:

Thông đường thở.

Hỗ trợ hô hấp.

Duy trì khả năng chuyên chở oxy.

Cung cấp đủ năng lượng.

Điều trị nguyên nhân.

Điều trị ban đầu bằng cách thông đường thở. Nếu bệnh nhân hôn mê thì hút đờm nhớt, ngửa đầu – nâng cằm, nếu thất bại đặt ống thông miệng hầu. Nếu bị tắc nghẽn đường hô hấp trên do có dị vật đưởng thở tiến hành thủ thuật Heimlich (> 2 tuổi), vỗ lưng ấn ngực (< 2 tuổi). Nếu viêm thanh khí phế quản dùng khí dung Adrenalin 1‰, Dexamethason TM, TB (xem phác đồ viêm thanh khí phế quản).

Hỗ trợ hô hấp bằng cách cung cấp oxy. Cung cáp oxy được chỉ định khi có tím tái và/hoặc SaO2 < 90% và/hoặc PaO2 < 60 mmHg, thở co lõm ngực nặng, thở nhanh > 70 lần/phút. Phương pháp cung cấp là dùng Oxygen canuyn (FiO2 30-40%), trẻ nhỏ dùng 0,5 – 3 lít/phút, trẻ lớn dùng 1 – 6 lít/ph, Mask có hay không có túi dự trữ (FiO2 40 – 100%) 6 – 8 lít/ph.

Nếu bệnh nhân ngừng thở, thở không hiệu quả thì bóp bóng qua mask với FiO2 100% hay đặt nội khí quản giúp thở.

Điều trị nguyên nhân

Di vật đường thở: vỗ lưng ấn ngực, thủ thuật Heimlich, nội soi lấy dị vật. Viêm thanh khí quản dùng Corticoid, khí dung Adrenalin. Suyễn dùng khí dung dãn phế quản. Phù phổi thì ngừng dịch, nằm đầu cao, thuốc tăng co bóp cơ tim, lợi tiểu. Tràn dịch khí màng phổi thì cho hút dẫn lưu màng phổi. Viêm phổi dùng kháng sinh. Ngộ độc dùng chất đối kháng đặc hiệu Naloxon trong ngộ độc Morphin.

Điều trị tiếp theo

Nếu bệnh nhân đáp ứng tốt với thở oxy thì điều chỉnh lưu lượng oxy đến mức thấp nhất giữ SaO2 94 – 96% để tránh tai biến oxy liều cao. Nếu bệnh nhân thất bại với oxygen và đang thở oxy canuyn thì tăng lưu lượng đến mức tối đa (6 lít/phút).

Hỏi: Vậy nếu bệnh nhân bị suy hô hấp cần thiết lập chế độ dinh dưỡng ra sao?

Trả lời:

Là giảng viên tại Cao đẳng Dược Tphcm – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur tôi thiết nghĩ nên cho ăn đường miệng, nếu không bú/ăn được nên đặt sonde dạ dày, gavage sữa hoặc bột mặn 10%. Để tránh viêm phổi hít do trào ngược dạ dày, cần chia làm nhiều cữ ăn và nhỏ giọt chậm. Năng lượng cần tăng thêm 30 – 50% nhu cầu bình thường để bù trừ tăng công hô hấp, tránh kiệt sức. Trong trường hợp thở máy do khí cung cấp đã được làm ẩm đầy đủ vì thế lượng dịch giảm còn 3/4 nhu cầu. Khi nuôi ăn tĩnh mạch toàn phần, tránh cho quá nhiều Glucose gây tăng CO2 , tỉ lệ giữa lipid và glucid là 1:1.

Nguồn benhhetieuhoa.com

Tin liên quan

Tin khác

Tin mới