Bạn biết gì về viêm kết mạc? Phương pháp điều trị viêm kết mạc thế nào?

Viêm kết mạc là loại viêm nhiễm thường gặp do các vi khuẩn có độc tính cao gây ra, nếu không được điều trị sẽ ảnh hưởng đến thị lực. Vậy điều trị viêm kết.

Đánh giá: 1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (1 đánh giá, trung bình: 5,00 trong tổng số 5)
Loading...

Viêm kết mạc là loại viêm nhiễm thường gặp do các vi khuẩn có độc tính cao gây ra, nếu không được điều trị sẽ ảnh hưởng đến thị lực. Vậy điều trị viêm kết mạc như thế nào hiệu quả?

Kết mạc là một cấu trúc giải phẫu gồm ba phần kết mạc sụn mi, kết mạc nhãn cầu và kết mạc cùng đồ. Bình thường kết mạc là một màng trong bóng, bắt đầu từ mặt trong của bờ mi và bao phủ cho đến vùng rìa của giác mạc. Viêm kết mạc là bệnh rất thường gặp, bao gồm tất cả những biểu hiện viêm, nhiễm trùng, kích thích, dị ứng,… của niêm mạc kết mạc.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Bác sĩ giảng viên tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur. Hãy cùng theo dõi cuộc trò chuyện này nhé!

Viêm kết mạc là gì?

Các dấu hiệu nhận biết và xét nghiệm lâm sàng cần làm khi bị viêm kết mạc

Hỏi: Thưa Bác sĩ, Bác sĩ có thể bệnh nhi bị viêm kết mạc sẽ có các dấu hiệu lâm sàng nào ?

Trả lời:

Cảm giác cộm, xốn, đau, nóng, ngứa hay nặng mi, sợ ánh sáng và chảy nước mắt.  Thường xảy ra ở một bên, vài ngày sau lan sang mắt bên kia, cũng có thể bệnh ở hai mắt cùng một lúc. Khi có đau hay sợ ánh sáng nhiều có thể có biến chứng viêm giác mạc hay màng bồ đào. Thị lực không giảm nếu viêm kết mạc đơn thuần, nếu xuất tiết tập trung ở giác mạc và chảy nước mắt làm cho bệnh nhân có cảm giác sương mù.

Khám lâm sàng thấy có hiện tượng đa tiết, ban đầu thường loãng vì có kèm chảy nước mắt, về sau thành chất nhầy có thể gây dính mi, nhất là lúc thức dậy vào buổi sáng. Chất tiết có thể là mủ trắng sữa, vàng nhạt hay xanh nhạt; có thể đặc hay lỏng; sau khi lau sẽ xuất hiện lại rất nhanh. Kết mạc bị phù mất tính trong bóng bình thường, có khi kết mạc nhãn cầu bị phù nề ra ngoài. Sung huyết ở kết mạc giảm dần khi tới vùng rìa. Hạt trong hay hơi đục, không có mạch máu ở trung tâm, chu biên có mạch máu nổi lên dưới biểu mô kết mạc. Giả mạc là màng fibrin bám trên biểu mô KM, có thể bóc ra dễ dàng. Gặp trong nhiễm virus, liên cầu khuẩn hoặc corynebacterium. Màng máu khám bằng sinh hiển vi, thấy ở vùng rìa cực trên giác mạc. Hạch trước tai thường gặp trong VKM do vi trùng, virus hoặc VKM hột.

Hỏi: Vậy khi đó chúng ta cần làm các xét nghiệm gì ?

Trả lời:

Xét nghiệm vi khuẩn: xét nghiệm chất tiết, làm phiến đồ hay nuôi cấy cho phép phân lập và làm kháng sinh đồ.

Xét nghiệm tế bào học:

  • VKM virus thấy có nhiều tế bào lympho.
  • VKM vi khuẩn thì có nhiều tế bào đa nhân.
  • VKM dị ứng có nhiều tế bào ái toan hay mastocytes.
  • VKM do Chlamydia thì nhiều tương bào và đại thực bào (Leber cells), phát hiện thể vùi trong nguyên sinh chất của tế bào biểu mô kết mạc.

Các xét nghiệm thường không thực hiện thường qui. Tuy nhiên, rất cần thiết khi triệu chứng lâm sàng không đủ để chẩn đoán xác định nguyên nhân hoặc trong những trường hợp nặng, kéo dài không đáp ứng với điều trị.

Chẩn đoán xác định dựa trên tổn thương lâm sàng và kết quả cận lâm sàng (bệnh phẩm là chất tiết của kết mạc). Đối với VKM hột có ít nhất 2 trong 4 điều kiện (WHO) đó là có hột trên KM sụn mi trên, có hột hoặc di chứng của hột ở vùng rìa giác mạc, có màng máu ở vùng rìa phía trên, sẹo KM đặc hiệu.

Chẩn đoán phân biệt với viêm thượng củng mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào và glaucoma.

huốc nhỏ mắt có thể là nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc

Nguyên tắc điều trị bệnh viêm kết mạc như thế nào?

Hỏi: Nguyên tắc điều trị viêm kết mạc là gì và bệnh được điều trị như thế nào?

Trả lời:

Nguyên tắc điều trị

  • Giữ vệ sinh mắt.
  • Điều trị triệu chứng.
  • Điều trị theo nguyên nhân.
  • Nâng cao thể trạng.

Điều trị

VKM do vi trùng thì rửa mắt bằng dung dịch Penicillin G nồng độ 10.000 đơn vị/ml hoặc nước muối sinh lý. Nếu đã hình thành giả mạc, bóc giả mạc hàng ngày hoặc cách ngày.  Điều trị chủ yếu là dùng kháng sinh tại chỗ. Mắt thứ hai thường bị bệnh sau 48 giờ nên phải nhỏ cả hai mắt. Đối với trường hợp vừa và nhẹ thường bắt đầu bằng một kháng sinh nhỏ mắt hoặc tra mắt. Điều trị với kháng sinh nhỏ mắt trong thời gian 2-5 ngày đầu sẽ giúp cải thiện tình trạng lâm sàng VKM cấp tốt hơn. Nên sử dụng loại có phổ kháng khuẩn rộng Neomycin, Gentamycin, Tobramycin, Ofloxacin (cẩn trọng khi dùng nhóm này cho trẻ em dưới 8 tuổi, riêng Oflovid (hàng Nhật) cho phép sử dụng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ). Thời gian sử dụng từ 7-10 ngày, 4-6 lần/ngày. Không có loại kháng sinh nào là tốt nhất, việc chọn lựa loại kháng sinh nên dựa theo tình trạng kinh tế và tình hình kháng thuốc của địa phương. Đối với trường hợp nặng như nhiễm trùng nặng, có giả mạc, có tổn thương giác mạc, nguy cơ dãn củng mạc,… nên sử dụng kháng sinh toàn thân ngay từ ban đầu Azithromycin 20mg/kg (uống), 1 lần/ngày. Thời gian sử dụng thường 3 ngày, nếu điều trị VKM do Chlamydia Trachomatis liều duy nhất 1g (uống). Azithromycin duy nhất, liều cao giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh mắt hột và nhiễm trùng mắt trong cộng đồng. Đối với trẻ sơ sinh có thể dùng Erythromycin 12 mg/kg (uống), chia 4 lần/ngày. Azithromycin cũng rất hiệu quả trong điều trị VKM kèm viêm bờ mi do tụ cầu. Cefaclor 10-20 mg/kg (uống), chia 2 lần/ngày hay Cefixim 8 mg/kg (uống), 1 lần/ngày hay chia 2 lần/ngày. Thời gian từ 7-10 ngày. Kháng sinh có thể thay đổi khi có kết quả kháng sinh đồ nếu lâm sàng không đáp ứng tốt với điều trị.

VKM do siêu vi thì chủ yếu điều trị triệu chứng và nâng đỡ thể trạng. Có thể phối hợp các thuốc nhỏ kháng sinh để chống bội nhiễm. Thận trọng khi dùng corticoids liều thấp và không dừng đột ngột tránh làm bệnh phát triển kéo dài và tái phát. VKM do herpes thuốc chống Herpes (Acyclovir 20– 40 mg/kg) và chống bội nhiễm.

VKM dị ứng thì tìm nguyên nhân gây dị ứng để cách ly như bụi, lông thú, kính tiếp xúc…Kháng Histamin tại chỗ (levocabastin, azelastin,…) 2-4 lần/ngày, thuốc nhỏ bền tương bào (nedocromil 0,1% 2 lần/ngày, lodoxamin 0,1% 4 lần/ngày). Kháng Histamin toàn thân. Corticoids tại chỗ dễ gây nhiễm trùng và nhiễm nấm nên chỉ sử dụng khi có cơn cấp trong thời gian ngắn, phải theo dõi nhãn áp và thủy tinh thể trong trường hợp điều trị kéo dài hàng tuần hay hàng tháng.

Cảm ơn những chia sẻ trên của Bác sĩ giảng viên tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur, chúc các bạn luôn vui khỏe !

Nguồn: benhhetieuhoa.com

Tin liên quan

Tin khác

Tin mới